1. Sâu vẽ bùa:
Sâu vẽ bùa gây hại trên các lá non, nặng nhất là các đợt lộc. Sâu non đục lớp dưới biểu bì thành những đường ngoằn nghèo làm cho lá bị biến dạng.
Đường đục của một con sâu ngoằn ngoèo khắp mặt lá nhưng không bao giờ cắt ngang hoặc nhập chung vào đường đục của những sâu khác sống trên cùng một lá. Trung bình một lá chỉ bị 1 – 2 sâu tấn công, mật số sâu cao có thể ghi nhận 4 – 5 sâu/lá. Đường đục lớn dần theo độ tuổi sâu. Khi lớp biểu bì trên đường đục bị rách sâu sẽ chết sau một thời gian ngắn. Để hoàn thành giai đoạn ấu trùng sâu vẽ bùa có thể đục một đường dài đến 140mm. Ðiều này cho thấy nếu mật số sâu cao và nếu sâu tấn công vào giai đoạn lá còn thật non thì có thể sẽ ảnh hưởng đến năng suất.
Sâu đục ăn tới đâu thường bài tiết phân đến đó nên vệt phân là một đường liên tục giống như sợi chỉ chạy dài theo đường đục của sâu ở phía chính giữa. Phân sâu lúc đầu có màu xanh vàng, sau thành màu nâu sẫm.
Biện pháp phòng trừ:
Bón phân trước khi ra lộc 15 – 20 ngày và tưới nước đủ tạo điều kiện cho lộc xuân và lộc thu ra tập trung, tỉa cành tạo cho vườn có độ thông thoáng.
Dùng một trong các loại thuốc có tác dụng nội hấp, thấm sâu như những hoạt chất: Chlorpyrifos ethyl, Imidacloprid, Cypermethrin, Alpha – Cypermethrin,..

2. Rệp sáp
Rệp sáp có đặc điểm chung là rệp non và rệp trưởng thành chích hút dịch trên các chồi, lá non, nụ hoa, quả non, làm cho các lộc non bị thui chột, lá non không phát triển được, lá nhỏ, cứng có màu trắng vàng. Chất bài tiết của rệp là môi trường thuận lợi cho nấm muội đen phát triển, ngoài ra rệp muội còn là môi giới truyền bệnh Tristeza trên cây cam.

Biện pháp phòng trừ:
+ Phát quang các cây trồng, cây dại trong và xung quanh vườn cây cam vào các tháng 11-12 làm mất nơi cư trú qua đông của rệp. Tỉa cành, tạo tán thông thoáng;
+Nếu tỷ lệ hại thấp ngắt các lộc bị hại nặng; khi phát hiện >10% số lộc có rệp, sử dụng một trong các loại thuốc hoá học như: Hello One 370SC + Thấm sâu NX phun kép 2 lần cách nhau 7-10 ngày.
3. Sâu đục thân, đục cành
Sâu đục cành: Là sâu non của loài xén tóc xanh thẫm có ánh bạc, sâu non nở nằm ở vỏ cành gặm phần nhu mô vỏ để sống, lớn lên sâu đục vào cành từ nhỏ đến lớn;
Sâu đục thân: Là sâu non của loài xén tóc nâu, sâu non nở ra gặm vỏ cây để sống và tạo thành một khoanh rãnh, quanh thân, sâu non nằm sâu bên trong thân, phân đùn ra như mùn cưa, khi sâu tuổi lớn đục vào phần gỗ thành đường hầm ngoằn nghèo ngược lên phần ngọn. Sau một thời gian sâu đục ra một phần vỏ mở một lỗ để thải phân và tiếp tục đục vào lõi gỗ để sống.

Biện pháp phòng trị:
+ Biện pháp thủ công: Tháng 4 hàng năm theo dõi thời gian xuất hiện và đẻ trứng của trưởng thành; dùng vợt thu bắt để diệt trưởng thành. Khi phát hiện thấy sâu hại, cắt bỏ cành tăm héo bắt sâu non. Dùng dây thép, dây phanh xe đạp luồn vào vết đục chọc chết sâu non ở thân cành hay gốc cây.
+ Biện pháp hóa học: Khi sâu non đã đục vào sâu trong thân dùng một trong các loại thuốc trừ sâu: Pha thuốc Cymkill NX với nồng độ cao 5-10 % cho vào bơm tiêm, bơm trực tiếp vào lỗ sâu đục, sau đó lấy đất sét bịt miệng lỗ đục
6. Nhện đỏ
+ Thời điểm xuất hiện: Xuất hiện vào thời điểm cây xuất hiện các đợt lộc, lá và đậu quả. Gây hại nặng ở các tháng tháng 4-5 và tháng 8-10 là các thời kỳ chuyển mùa từ xuân sang hè và từ hè sang thu.
+ Triệu chứng: Nhện trưởng thành và nhện non sống ở mặt trên của lá, chích hút dịch lá, tạo nên các vết châm nhỏ li ti màu trắng vàng. Khi mật độ cao chúng có mặt cả trên quả, cành bánh tẻ. Bị hại nặng cả lá và quả có màu trắng hơi vàng, lá bị rụng,giảm khả năng quang hợp của lá, cây còi cọc. Nhiệt độ thích hợp cho nhện gây hại là 250C.

Biện pháp phòng trị:
Cắt tỉa cành tạo vườn thông thoáng, không trồng dày
Bón phân cân đối, bón tập trung để đọt non ra đồng loạt
Mùa nắng nên thường xuyên tưới nước lên tán lá tạo ẩm độ cao.
Khi vườn nhiều nhện, mỗi đợt cây ra đọt, lá non tốt nên phun xịt 3 lần, cách nhau 15 – 17 ngày/ lần thuốc đặc trị nhện chứa các hoạt chất Abamectin, Spirodiclofen,..
7. Bệnh sẹo do nấm
Bệnh hại lộc, lá non, hoa quả non. Trên lá lúc đầu là những chấm nhỏ lồi lên có màu hồng nâu, mặt đối diện của lá bị lõm xuống, lá cong queo. Quả bị bệnh sớm bị rụng hoặc không phát triển, vỏ quả như bị ghẻ;
Biện pháp phòng trừ:
Sau mỗi vụ thu hoạch cần cắt tỉa, vệ sinh vườn cây để giảm nguồn bệnh;
Sử dụng thuốc trừ nấm có gốc thuốc Metalaxyl, Mancozeb, Azoxystrobin, Pyraclostrobin,..
Chú ý: Nên phun sớm khi mầm lộc có độ dài bằng hạt gạo và phun tiếp lần 2 vào lúc 2/3 số hoa rụng cánh.

8. Ruồi vàng hại quả
Ruồi vàng đẻ trứng vào phần tiếp giáp vỏ và thịt quả, giòi non nở và gây hại phần tép quả làm cho thối nhũn gây rụng quả, ruồi thường hoạt động từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm.
Ruồi đục quả gây hại quanh năm theo sự phát triển của từng loại cây trồng (khi quả lớn đến chín), khi bị ruồi đục quả có thể làm cho quả cong queo, dị dạng, thối rụng hàng loạt hoặc khi bổ ăn thấy con dòi nằm trong thịt quả làm mất cảm giác ngon và sợ,…
Biện pháp phòng trừ:
+ Vệ sinh vườn sạch sẽ, thông thoáng để hạn chế nơi trú ẩn của ruồi; Thu dọn tiêu hủy quả rụng để hạn chế sự lây lan phá hoại.
+ Bao bọc quả: Đây là biện pháp quan trọng có hiệu quả cao đang được người sản xuất lựa chọn nhiều hiện nay. Khi quả bắt đầu vào giai đoạn lớn dùng loại bao chuyên dùng cho bọc quả để bọc từng quả và giữ nguyên cho đến khi thu hoạch. Nếu trồng ít có thể dùng túi nilon bình thường để bọc quả (khi bọc phải dùng vật nhọn như đầu tăm nhọn chọc một số lỗ thông hơi ở túi để quả vẫn hô hấp bình thường).
+Dùng vải màn để bao toàn bộ cây đối với nơi có điều kiện, cây vừa đủ cao và có giá trị kinh tế cao.
+ Dùng bẫy bả để dẫn dụ và diệt ruồi. Đặt bả vào tháng 6 đến tháng 12 hàng năm.
+ Phun phòng trừ trước khi thu hoạch 1 tháng phun xung quanh gốc để diệt nhộng sản phẩm đặt trị chích hút đặc biệt là ruồi vàng Hello One 370SC Nexus
8. Bệnh loét do vi khuẩn
Bệnh gây hại trên lá, cành non và quả; Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng ướt, màu xanh đậm (xanh tối), sau đó chuyển thành màu nâu nhạt có cuồng vàng, nhô trên mặt lá, vỏ quả. Bệnh loét làm cho lá, quả bị rụng; cành bị khô, cây còi cọc chóng tàn.
Biện pháp phòng trừ:
+ Vệ sinh đồng ruộng, cắt bỏ cành vượt, cành lá, quả bị nhiễm bệnh mang ra ngoài khu vực vườn để tiêu huỷ; Chăm sóc, bón phân đầy đủ, cân đối, đúng lúc để kích thích cây sinh trưởng phát triển khỏe, ra chồi lộc tập trung.
+ Biện pháp hóa học sủ dụng các dòng thuốc trừ vi khuẩn phun khi lộc xuân hình thành được khoảng 10-15 ngày, khi tắt hoa và khi quả non

Bệnh phát sinh ở phần thân gần gốc cây, rễ to sát gốc, lúc đầu vỏ cây có mầu thâm đen, trên vỏ cây có các vết nứt ướt, kèm hiện tượng nhựa vàng chảy ra, vết bệnh có thể lan vòng quanh thân và rễ cái; gỗ bên trong bị thối nâu; bệnh nặng làm cho cành hoặc cả cây chết khô.
Biện pháp phòng trừ:
+ Sử dụng các giống có khả năng chống chịu bệnh.
+ Chọn đất trồng cao, thông thoáng, thoát nước tốt. Khi trồng, chăm sóc tránh làm tổn thương rễ đặc biệt là vùng gần gốc.

+ Dùng Boocdo 1 % quét 2 lần/năm vào thân, cành cấp 1 hoặc sử dụng các loại thuốc có gốc Metalaxyl, Azoxystrobin, Pyraclostrobin,.. phun lên tán hoặc tưới vào đất.


